Câu hỏi đầu tiên của người sắp mở cơ sở đồ uống thường là cần bao nhiêu tiền. Câu hỏi đó không có câu trả lời chung, vì cùng một ly trà sữa có thể bán từ một gian bếp tại nhà với 4 triệu hoặc từ một cơ sở nhượng quyền với hơn 1 tỷ.
Câu hỏi trả lời được là: ở mỗi bậc vốn, bạn chấp nhận bỏ đi thứ gì. Bài này xếp các bậc cạnh nhau theo cột đó, đưa một công thức soát nhanh từ tiền thuê, và chỉ ra hai chỗ trong bảng vốn người mới hay tính sót.
Thang vốn là gì?
Thang vốn là dãy các mức tiền dựng cơ sở xếp từ thấp lên cao, mỗi mức ứng với một mô hình. Với đồ uống, dãy này thường có bốn bậc:
| Vốn | Mô hình | Thứ bỏ đi |
|---|---|---|
| 4 triệu | Bán online tại nhà | Mặt bằng, thiết bị, thương hiệu |
| 30 triệu | Vỉa hè | Mặt bằng trong nhà |
| 200 triệu | Tự dựng, có mặt bằng | Thương hiệu |
| 500 triệu đến hơn 1 tỷ | Mua nhượng quyền | Không bỏ gì |
Số làm tròn từ các bảng vốn công khai, cơ sở của bạn có thể lệch.
Cột đầu tiên là cột ai cũng nhìn. Cột cuối mới là cột đáng đọc, vì thang này không xếp theo chất lượng. Thang này xếp theo những thứ bạn chấp nhận bỏ qua để mở được cửa.
Mỗi bậc bỏ đi thứ gì?
Bậc thấp nhất bỏ mặt bằng và gần như bỏ cả thiết bị. Cơ sở sống bằng đơn giao và tệp khách có sẵn của người chủ.
Bậc vỉa hè có chỗ bán nhưng không có mặt bằng trong nhà, nên không có chỗ ngồi, không có kho, và phụ thuộc vào thời tiết và trật tự đô thị.
Bậc 200 triệu có mặt bằng nhưng bỏ thương hiệu. Người chủ phải tự kéo khách bằng sức mình, từ cái tên, cái biển cho tới cách làm cho người đi ngang biết cơ sở bán gì.
Bậc nhượng quyền không bỏ gì, đổi lại người chủ trả tiền cho những phần mình không tự làm: thương hiệu, công thức, quy trình, và một phần doanh thu về sau.
Từ đó, câu hỏi lúc chọn bậc không phải "có bao nhiêu tiền" mà là "tự làm được phần nào". Người đã có tệp khách và biết làm nội dung thì bỏ thương hiệu là hợp lý, vì phần việc đó họ gánh được. Người tay ngang chọn bậc 200 triệu là tự nhận phần việc khó nhất mà mình chưa biết làm, và thường nhận ra điều đó vào tháng thứ hai khi khách không tới.
Một chỗ cần cảnh giác khi đọc thang vốn của thị trường khác: một xe cà phê lưu động ở Mỹ tốn khoảng 265 triệu, đắt hơn một cơ sở trà sữa có mặt bằng ở Việt Nam. Cùng loại hình, bậc vốn khác nhau vì thị trường khác nhau. Con số của thị trường khác không áp sang được, kể cả khi mô hình trông giống hệt.
Tiền thuê nhân 30 ra bậc vốn nào?
Hai bảng vốn công khai cho hai cơ sở rất khác nhau: một cơ sở cà phê ở Melbourne dựng hết khoảng 150.000 đô, một cơ sở trà sữa ở Việt Nam dựng hết khoảng 200 triệu. Chia mỗi con số cho tiền thuê tháng của chính cơ sở đó, cả hai rơi vào cùng một chỗ, quanh 30 tháng tiền thuê.
Cách đọc hợp lý: tiền thuê là thước đo của thị trường, và vốn dựng cơ sở bám theo thước đó. Mặt bằng đắt thì mọi thứ đặt vào trong nó cũng đắt theo, vì ít ai dựng một cơ sở rẻ tiền trong một mặt bằng giá cao.
Dùng ngược lại thì thành công cụ dự toán nhanh:
Bậc vốn cần có ≈ tiền thuê tháng × 30
Mặt bằng 25 triệu một tháng cho ra bậc vốn quanh 750 triệu. Số giả định. Nếu trong túi có 300 triệu, có hai khả năng: mặt bằng quá tầm, hoặc bạn đang định dựng một cơ sở không xứng với chỗ đó. Cả hai đều là vấn đề, và cả hai đều rẻ hơn nhiều khi phát hiện trước lúc ký hợp đồng thuê.
Công thức rút từ hai điểm dữ liệu, không phải một quy luật, nên chỉ dùng để phát hiện lệch. Công thức gãy ngay khi bỏ mặt bằng trong nhà: cơ sở vỉa hè vốn 30 triệu với tiền cọc 5 triệu ra tỷ lệ 6. Cách tính trần doanh thu của chính mặt bằng đó, để biết tiền thuê có hợp lý không, ở bài trần doanh thu của mặt bằng.
Khoản nào hay bị tính sót?
Ở bậc 200 triệu, khoản đầu tiên trong bảng thường không phải máy móc mà là khoảng 40 triệu tiền nhà cho sáu tháng trả trước.
Người mới hay bỏ sót khoản này vì nó không phải tài sản. Bạn không cầm được, không bán lại được, và nó biến mất dần theo tháng. Nhưng không có nó trong túi từ đầu thì không mở được cửa.
Cùng nhóm với nó là tiền cọc, thường thêm vài tháng nữa. Cộng lại, phần tiền mặt bằng trả trước có thể chiếm một phần tư bậc vốn trước khi mua bất cứ thứ gì. Khoản này đi cùng với phần chi cố định hằng tháng khi tính điểm hòa vốn theo số khách.
Phần nào trong bậc vốn đắt nhất?
Phần khách nhìn thấy, không phải phần pha chế.
| Khoản | Việt Nam | Melbourne |
|---|---|---|
| Quầy, biển, sơn | khoảng 100 triệu | thiết bị bếp 47.000 đô |
| Máy móc pha chế | khoảng 50 triệu | máy pha và máy xay bằng 1/3 bếp |
Số làm tròn từ hai bảng vốn công khai.
Ai nghĩ mở cơ sở cà phê tốn nhất ở máy pha là đang nhầm bậc. Thứ tốn tiền là bếp, tủ, mặt đá, quầy, tức phần dựng nên không gian.
Điều này có ích khi phải cắt. Hạ một đời máy pha tiết kiệm được ít hơn nhiều so với thiết kế lại quầy cho gọn. Máy pha thấp hơn ảnh hưởng thẳng tới ly nước, còn quầy gọn hơn thì khách thường không nhận ra.
Đọc bảng vốn của người khác thì nghi ở đâu?
Hai chỗ đáng nghi nhất là tỷ lệ hoàn vốn và con số lãi ước chừng.
Tỷ lệ hoàn vốn ở mẫu số nhỏ. Một người bán đồ uống online với vốn 4 triệu nói đã hoàn 70% vốn sau một tháng. Con số có thể đúng, nhưng mẫu số là 4 triệu. Cùng tỷ lệ ấy ở bậc 200 triệu là một câu chuyện khác hẳn. Tỷ lệ hoàn vốn ở bậc rất thấp gần như không nói gì về mô hình.
Lãi ước chừng chưa trừ đủ. Một cơ sở vỉa hè bán 5 triệu một ngày, chủ ước lãi 30%, tức 1,5 triệu mỗi ngày, tức hoàn vốn 30 triệu trong 20 ngày. Số giả định. Con số quá đẹp để đúng như đang nghe. Hai cách đọc hợp lý hơn: 30% là lãi gộp chưa trừ tiền thuê và công của chính hai người chủ, hoặc 5 triệu là doanh thu của ngày đẹp, không phải ngày trung bình. Người nói không cố ý sai, họ chỉ đang nói lãi gộp trong khi người nghe hiểu thành lãi ròng. Cách bóc lãi gộp ra khỏi giá bán ở bài giá vốn một ly: hai người tính ra hai kết quả.
Làm gì trong một buổi tối?
- Lấy tiền thuê của mặt bằng đang nhắm, nhân 30. So với số tiền đang có. Lệch nhiều thì dừng lại xem lệch ở đâu trước khi ký.
- Viết bảng vốn theo cột "bỏ đi thứ gì", không theo cột "mua thứ gì". Đang bỏ mặt bằng, bỏ thương hiệu, hay bỏ cả hai, và mình có đủ sức gánh đúng phần đã bỏ không.
- Cộng riêng phần tiền mặt bằng trả trước, gồm cọc và số tháng trả trước. Vượt một phần tư tổng vốn là đang mua chỗ ngồi nhiều hơn mua khả năng bán hàng.